Tư vấn miễn phí
Hotline : (+84) 0984 56 66 76
Email : [email protected]

Bạn muốn Amica Travel gọi cho bạn ?

Bắc Hà của Ngoại

Bắc Hà của Ngoại

Queenie Nguyen - 01/06/2021

Nay nắng hanh về, bà ngoại tôi lại tranh thủ mang ít hạt cải mèo với củ ấu tầu mua từ chợ Bắc Hà mùa trước ra phơi lạị. Năm nào bà cũng phải đi Bắc Hà ít nhất một lần, lần nào về cũng tay xách nách mang đủ thứ, nào rượu ngô, nào măng, nào các loại hạt rau, nụ tam thất, ấu tầu,…

Phải nói rằng, bà «phải lòng» Bắc Hà, không phải chỉ vì nét duyên dáng rất riêng của thị trấn nhỏ nằm dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn, với vô vàn các loại sản vật mộc mạc bà thích, bà quý, mà còn bởi Bắc Hà là một phần cuộc đời bà, là nơi bà cùng ông tôi – những thanh niên Hà Nội thuở ấy – cùng lên đây công tác, bén duyên nhau, cùng nhau ở lại lập nghiệp rồi sinh con đẻ cái ở đó. Chẳng thế mà Bắc Hà với bà thân thuộc lắm, lúc nào cũng đau đáu tìm về.


Góc chợ Bắc Hà.

Nhớ mùa Hè năm nào theo chân bà lên đó, ngồi xe khách « chuồng gà » đi quốc lộ 70 cũ quanh co, xóc long sòng sọc gần cả ngày trời mới tới. Bà bảo bây giờ sướng, đường cao tốc thênh thang, xe nhiều, đẹp lại tiện, chạy êm như ru, lên xe nhắm mắt ngủ vài tiếng đã tới nơi. Bắc Hà lúc ấy, với một đứa chưa từng biết « du lịch » là gì như tôi, vô cùng lạ lẫm và thích thú.

Bà nói Bắc Hà đọc đúng phải là « Pạc Ha », sau hết người Pháp phiên âm thành Pakha rồi đến người Kinh chỉnh lại cho thuận miệng mới thành tên « Bắc Hà » như bây giờ. « Pạc Ha » trong tiếng Tày nghĩa là « bãi cỏ tranh », nghe đã thấy một miền xưa hoang vu lắm, đối lập hoàn toàn với một Bắc Hà đông đúc, giàu có như ngày nay.

Bà luôn chọn ở Sao Mai, khách sạn 3* bề thế và nổi tiếng nhất nhì thị trấn. Dù sau này Bắc Hà mọc thêm biết bao nhiêu khách sạn và homestay mới, xinh xắn có, tiện nghi có, mộc mạc có, hiện đại cũng có nhưng bà vẫn trung thành với nơi đó, phần vì chủ khách sạn rất dễ thương, phần vì khách sạn xây trên nền đất vườn cũ của ông bà ngày trước. Bà kể chỗ vườn đó hồi xưa rộng cả ngàn mét, đầy những bụi rong riềng tím, mận tam hoa, mận hậu và hồng ngâm, mùa nào thức đó, sai lúc lỉu. Vì vậy, Sao Mai đối với bà là cả một vườn hoài niệm.

Sau khi cất đồ xong, tôi theo bà ra đường thăm thú rồi đi chợ, vì bà thích nhất là đi chợ. Ánh nắng mùa Hè chiếu xiên xiên xuống mặt đường đã trải nhựa. Cái nắng miền sơn cước vàng rực rỡ nhưng không gắt gỏng như nắng miền xuôi, cứ dìu dịu như gái 16, nóng mà chưa làm ai vã mồ hôi. Trong chợ, không phải ngày phiên, chỉ còn vài hàng quán còn mở cửa. Góc chợ, mấy chú dân tộc Mông đang thảnh thơi đánh một giấc say sưa cạnh nồi thắng cố còn hồng than, hẳn sáng hôm đó các chú đã có một bữa ra trò.

Bà bảo muốn xem chợ phiên lớn nhất Tây Bắc này đặc sắc như thế nào, hãy đến vào Chủ Nhật hàng tuần, ngày đó mới đúng ngày họp chợ, đông vui, nhộn nhịp lắm. Cả tuần có một phiên, người Mông, người Tày, người Dao…ở khắp nơi sẽ nô nức kéo nhau xuống chợ, không chỉ để mua bán, trao đổi hàng hóa, mà còn để ăn, để chơi.


Những Mế người Hmong xuống chợ. 

Từ sớm, các mẹ, các chị gái Mông Hoa, lưng sẽ gùi những măng sặt, măng vầu to vừa bàn tay người ôm, chân quấn độc xà cạp, đôi chân đã quen leo dốc leo đồi, dép giày có khi còn thêm phần vướng víu, cuốc bộ cả mấy cây số từ bản xuống. Những em gái Mông mặc váy xòe đã chuẩn bị từ cả ngày hôm trước, ngồi trên những tảng đá to quanh chợ, bên cạnh có chiếc ô sặc sỡ để làm duyên, e thẹn chờ những chàng trai bản xuống chơi chợ làm quen.

Vừa tiếp tục đi quanh chợ bà vừa chỉ chỗ cổng này là các mế người Mông gương mặt hằn sạm sương mờ gió núi mà khỏe khoắn lắm, đầu chít khăn hoa, miệng cười móm mém khoe hàm răng đen nhánh chiếc còn chiếc mất, đôi bàn tay nhằng nhịt loang lổ màu chàm nhuộm vải, rót thoăn thoắt rượu ngô tự nấu thơm lừng vào các chai, đơm thật đầy các lon ớt quả khô đỏ chói, gói rất nhanh gói hạt cải, ấu tầu, bó thật chắc những khúc cây rừng, những loại dược liệu quý cho khách. Bà thích nhất là khu chợ này, bà sẽ được thỏa thích nói tiếng Quan Hỏa với các mế, thứ tiếng bà học được sau mấy chục năm sống gần với những người dân tộc Mông thật thà, hiền lành.

Phía đằng sau, đang vào mùa cây trái nên sẽ có cơ man nào là mắc cọp xù xì, xam xám ngọt mát, là mận tam hoa, mận hậu quả to như nắm tay tím lịm nhìn tứa nước miếng, là dưa chuột nương một ngàn 3 quả to như bắp tay người, là những bó cải mèo xanh mướt xếp hàng dài cạnh những mớ rau đậu Hà Lan mơn mởn gọi mời.


Người bán rau và dưa chuột nương trên chợ Cán Cấu. 

Huyên náo nhất thường sẽ là khu chợ gia súc, gia cầm. Lũ ngựa thường được săn đón nhất vì người Mông luôn cần một con ngựa khỏe như người Kinh chọn một chiếc xe tốt, vừa làm phương tiện đi lại, vừa để thồ hàng, chở củi. Trông chúng bồn chồn và bối rối khi chốc chốc lại có người tiến tới vạch cái miệng ra xem răng, vuốt ve bộ lông nâu sậm mềm óng, thỉnh thoảng chồm chồm lên hí vang khi có bàn tay bác nài ngựa nào vỗ tét vào mông.

Bên cạnh, lũ chó con xa hơi mẹ sủa inh ỏi, quẩn lấy chân ông chủ mặt đầy suy tư, nét suy tư đầy vẻ nửa vừa không muốn bán đàn chó, nửa vẫn muốn có tiền chơi chợ, uống rượu ngô, ăn thắng cố. Gà vịt bốn bề quang quác, the thé. Chỉ có lũ trâu lực lưỡng, sừng cong veo trên đầu, điềm tĩnh, lặng thinh nhìn thiên hạ hỗn loạn bằng cặp mắt ti hí lim dim.


Một góc chợ gia súc.

Nhưng nhộn nhịp nhất vẫn là khu ẩm thực. Bà kể, từ sáng sớm, những chảo thắng cố lớn giữa chợ đã sôi sục không lúc nào ngớt người ngồi quanh. Mùi thịt ngựa ngai ngái, át đi bởi mùi thơm đặc trưng của những địa liền, thảo quả, quế khô và lá chanh nướng theo gió bay khắp chợ, thách thức vị giác của bất kỳ cái miệng nào đang khô héo, mỏi mòn ngóng đến phiên chợ để thỏa cơn thèm.

Món thắng cố trông thế mà có tuổi đời lâu hơn bất kỳ người già nào trường thọ nhất Bản Phố. Suốt 200 năm qua, nó đã làm nhờn môi bao nhiêu trai bản, cũng làm biết bao nhiêu người vợ Hmong phải kiên nhẫn ngồi chờ chồng tỉnh giấc sau mỗi lần xuống chợ say sưa.

Cạnh những chảo thắng cố nghi ngút, dãy bàn bán phở chua và bánh đúc ngô cũng sẽ chật như nêm, toàn những phụ nữ và trẻ em. Những tảng bánh đúc ngô đặc quánh đổ từ trong những chiếc xô lớn lên bàn như những trái núi vàng sừng sững. Cô bán hàng cầm chiếc dao như cái bồ cào xẻ vào từng «trái núi» thành sợi, bỏ vào từng bát, cho vài gắp dưa cải muối, lá hẹ sống cắt đôi cắt ba, chan nước gạo đãi để hai ngày cho lên men chua rồi thêm ít lạc rang thơm giã dối để mời khách. Món ăn chẳng phải cao lương mỹ vị gì cầu kỳ mà sao ai nấy cũng ăn ngon lành, ăn mà vui đến ấm hồng cả những cái má rám nắng…


Em bé Hmong ăn phở chua cùng mẹ. 

Những ngày sau đấy là những ngày cùng Bà bắt xe từ thị trấn lên chợ Cán Cấu mua thổ cẩm, băng qua những bạt ngàn ruộng bậc thang, những nương ngô xanh rì, những rừng sa mộc và sa mu rung rinh nắng; đi xe ôm lên Bản Phố tìm men hồng my, xem nấu rượu ngô rồi vào bản Na Hối nơi có căn nhà đầu tiên ông bà cất, bạt ngàn mận tam hoa chín rụng đầy gốc ngựa không buồn ăn.

Có ngày sáng lên « Dốc Mặt trời mọc » Thải Giàng Phố ngắm bình minh, chiều về ghé thăm dinh Hoàng A Tưởng rồi ra Cầu Mây, ngắm suối ngóng hoàng hôn xuống núi Ba Mẹ Con, tối về thưởng thức món khâu nhục trứ danh rồi tráng miệng bằng bát sủi dìn đậm chất Bắc Hà.


Niềm vui của Bà Ngoại là mỗi năm được trở lại Bắc Hà ít nhất 1 lần. 

Dù bây giờ có nhiều thay đổi, Bắc Hà với Bà vẫn thuần khiết như thế, đầy màu sắc và sống động và ăm ắp hoài niệm như thế. Bà chẳng mong gì nhiều, chỉ mong Tết này lại được đi Bắc Hà.